Bối cảnh Vĩ mô
Việt Nam
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng Mười ước đạt 598.4 nghìn tỷ đồng, tăng 0.2% so với tháng trước và tăng 7.2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 5,772.9 nghìn tỷ đồng, tăng 9.3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2024 tăng 8.8%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7.0% (cùng kỳ năm 2024 tăng 4.8%).
- Trong tháng Mười, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 81.49 tỷ USD, giảm 1.2% so với tháng trước và tăng 17.2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 762.44 tỷ USD, tăng 17.4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 16.2%; nhập khẩu tăng 18.6%. Cán cân thương mại hàng hóa xxuất siêu 19.56 tỷ USD.
- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Mười đạt 42.05 tỷ USD, giảm 1.5% so với tháng trước và tăng 17.5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 391.0 tỷ USD, tăng 16.2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 94.17 tỷ USD, bằng tháng trước, chiếm 24.1% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 296.83 tỷ USD, tăng 22.5%, chiếm 75.9%.
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Mười tăng 0.20% so với tháng trước; tăng 2.82% so với tháng 12/2024; tăng 3.25% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân mười tháng năm 2025, CPI tăng 3.27% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3.20%.
- Trong tháng Mười, khách quốc tế đến nước ta đạt 1.73 triệu lượt người, tăng 13.8% so với tháng trước và tăng 22.1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2025, khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 17.2 triệu lượt người, tăng 21.5% so với cùng kỳ năm trước.
- Sáng 08/11, Chính phủ họp thường kỳ tháng 10/2025, trực tuyến với các địa phương. Kết luận phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10, Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ rõ, để tăng trưởng cả năm 2025 đạt trên 8%, thì tốc độ tăng GDP quý IV phải đạt trên 8.4%.
Quốc tế
- Tâm lý người tiêu dùng Mỹ tiếp tục suy giảm trong tháng 11, theo khảo sát hàng tháng của Đại học Michigan, nối dài đà đi xuống trong bối cảnh giá cả vẫn leo thang và tình trạng chính phủ đóng cửa kéo dài. Chỉ số tâm lý chung của khảo sát Michigan giảm xuống 50.3 trong tháng 11, từ mức 53.6 của tháng trước, dựa trên các phản hồi sơ bộ.
- Bộ Nội vụ Mỹ đã bổ sung đồng, bạc và than luyện kim vào danh sách “khoáng sản thiết yếu”, qua đó làm tăng khả năng những nguyên liệu này sẽ được đưa vào phạm vi các chính sách thuế quan trong tương lai. Ba loại nguyên liệu này nằm trong số 10 yếu tố được bổ sung vào danh sách hôm thứ Năm, danh sách này được khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS) cập nhật theo chu kỳ ba năm. Danh sách này quyết định những khoáng sản nào sẽ nằm trong phạm vi rà soát thuế quan theo Mục 232, vốn áp dụng dựa trên lý do an ninh quốc gia. Nó cũng là cơ sở để xem xét dự án khai thác trong nước nào có thể nhận được hỗ trợ liên bang.
- Tập đoàn Tài chính Phát triển Hoa Kỳ (US Development Finance Corporation) đã phê duyệt khoản vay 465 triệu USD cho Serra Verde nhằm hỗ trợ phát triển mỏ đất hiếm Pela Ema tại bang Goias, Brazil. Khoản vốn này sẽ giúp Serra Verde nâng công suất sản xuất nhóm đất hiếm nặng – lĩnh vực mà chuỗi cung ứng toàn cầu hiện do Trung Quốc chi phối. Trung Quốc vừa là nước khai thác vừa là nước tinh luyện các kim loại này, và hiện chỉ Trung Quốc mới có khả năng xử lý đất hiếm nặng khai thác từ mỏ đất sét ion của Serra Verde ở quy mô công nghiệp.
- Các nhà bán lẻ và doanh nghiệp dịch vụ lưu trú tại Mỹ đang tuyển dụng số lượng lao động thời vụ thấp nhất trong hơn một thập kỷ, khi thuế quan và thị trường lao động chững lại gây sức ép lên kỳ vọng doanh số mùa lễ hội.
- Lưỡng đảng tại Thượng Viện Mỹ đã tiến gần tới một sự đồng thuận, có thể sẽ cho phép chính phủ Mỹ mở cửa trở lại trong tuần này.
Lãi suất
Sau khi giảm sâu trong tuần trước, lãi suất VND trên thị trường tăng mạnh trở lại, giữ loanh mức 6% trong tuần vừa rồi. Lãi suất VND tăng mạnh trong khi lãi suất USD giảm nhẹ sau khi Fed cắt giảm lãi suất, đẩy chênh lệch lãi suất VND – USD lên cao, chạm ngưỡng 2 điểm phần trăm.
Việc giữ chênh lệch lãi suất cao là hành động có chủ đích của SBV trong giai đoạn cuối năm, nhằm ổn định tỷ giá. Chúng tôi kỳ vọng SBV sẽ duy trì động thái này cho đến hết năm nay.
Trong khi đó, lãi suất VND tăng cao phản ánh tình trạng thiếu tiền mặt trong hệ thống LNH. Hiện tượng này diễn ra trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng vượt xa tăng trưởng huy động, tức các ngân hàng đang cho vay ra nhiều hơn so với lượng huy động mà họ có.
Việc này đã dẫn đến cuộc đua lãi suất huy động mà chúng ta thấy trong thời gian gần đây, chứ không phải là SBV đảo chiều chính sách, thắt chặt tiền tệ. Vì thực tế lượng tiền trong nền kinh tế phần lớn đều đã nằm trong hệ thống ngân hàng, nên cuộc đua lãi suất này thực chất là các ngân hàng giành giật tiền gửi của nhau.
Trong một giai đoạn như hiện nay, lãi suất cho vay bị kiềm chế, lãi suất huy động tăng nhanh, NIM của các ngân hàng sẽ mỏng đi. Nhưng các ngân hàng lớn sẽ có lợi thế hơn về quy mô và tập khách hàng, trong khi các ngân hàng nhỏ sẽ chịu nhiều áp lực.
Tỷ giá
Chênh lệch lãi suất ở mức cao tiếp tục đẩy tỷ giá USDVND LNH giảm xuống. Tuy nhiên, tỷ giá USD tự do vẫn tiếp tục tăng.
Như đã nói, tỷ giá USD tăng khi các ngân hàng hạn chế bán USD ra nền kinh tế (theo khảo sát của chúng tôi thì các trường hợp đi du lịch, đầy đủ giấy tờ, cũng chỉ được mua tối đa 5,000 USD, nhiều ngân hàng còn đặt hạn mức thấp hơn). Với những nhu cầu không có giấy tờ, ngân hàng chắc chắn không bán.
Khi hệ thống NH không thể cung cấp đủ, người dân buộc phải tìm tới USD tự do. Mặt khác, lo ngại trước tình trạng mất giá của VND, nhu cầu USD tích trữ càng tăng vọt. Dù vậy, hiện tượng này có cả mặt lợi lẫn mặt hại.
Hiện đã có chính sách huy động USD từ người dân. Những người gửi USD vào ngân hàng sẽ được cho vay VND với lãi suất thấp hơn hẳn, thấp hơn lãi suất huy động. Khi đó thì chỉ cần gửi ngược lại tiền vào NH cũng đã có thể hưởng chênh lệch lãi suất. Đây bản chất là một hình thức trả lãi cho khoản USD huy động.
Như vậy, các ngân hàng sẽ bổ sung được nguồn USD cho mình từ USD tự do. Nhưng như vậy thì nó càng kích thích nhiều người mua USD chợ đen để gửi vào NH nhận lãi suất hơn. Hiện tượng này sẽ kéo tỷ giá tự do đi lên, cho đến khi chênh lệch tỷ giá cao đến một mức mà phần chênh lệch lãi suất vay – gửi tại ngân hàng không còn đủ hấp dẫn nữa.
USD: Từ đầu năm đến nay, đồng USD liên tục suy yếu do những kỳ vọng về việc Fed cắt giảm lãi suất, những chính sách thương mại của Tổng thống Mỹ Donald Trump làm suy yếu niềm tin vào tài sản USD và đồng USD.
Tuy nhiên, với việc Chủ tịch Fed Jerome Powell đã đánh tiếng vào tuần trước, rằng không có gì đảm bảo sẽ cắt lãi suất trong tháng 12, đồng USD đã mạnh lên.
Nhìn chung, đánh giá của các ngân hàng quốc tế lớn đều đồng thuận rằng đồng USD sẽ tiếp tục mạnh lên trước cuộc họp tiếp theo của Fed, trừ khi chính phủ Mỹ mở cửa trở lại và các số liệu kinh tế cho thấy định hướng nới lỏng rõ ràng hơn.
Các ngoại tệ khác
JPY: Đồng JPY duy trì vị thế phòng thủ khi nhà đầu tư tìm tài sản trú ẩn giữa bất định vĩ mô, nhưng đà tăng bị giới hạn bởi chênh lệch lợi suất lớn so với Mỹ và thiếu tín hiệu thắt chặt mới từ BoJ. USD/JPY dao động quanh 153–154, song yên vẫn có tuần nhích lên nhẹ so với USD do dữ liệu kinh tế Mỹ yếu và đóng cửa chính phủ làm tăng tâm lý rủi ro.
Nhu cầu quyền chọn phòng hộ tăng nhưng không bùng nổ, cho thấy nhà đầu tư phòng thủ chứ chưa xoay trục hoàn toàn. Yên vẫn là lựa chọn phòng vệ chính, nhưng thiếu động lực tăng mạnh nếu BoJ không thay đổi lập trường.
GBP: Đồng GBP chấm dứt hai tuần giảm liên tiếp trong bối cảnh BoE giữ nguyên lãi suất và tín hiệu cho thấy nội bộ bắt đầu nghiêng về khả năng cắt giảm trong các cuộc họp tới. Tâm lý thị trường trở nên thận trọng hơn trước khi chính phủ công bố ngân sách tháng 11, với lo ngại các biện pháp thắt chặt tài khóa có thể làm suy yếu hoạt động kinh tế.
GBP/USD giảm về vùng 1.31 trong khi lợi suất trái phiếu ngắn hạn biến động theo kỳ vọng chính sách. Dù một số chuyên gia đánh giá mức giảm đã phản ánh phần nào rủi ro, đồng bảng vẫn chịu áp lực do triển vọng lãi suất và tài khóa không rõ ràng, khiến nhà đầu tư hạn chế nắm giữ trong ngắn hạn.
NDT: NDT suy yếu nhẹ trong tuần, chấm dứt chuỗi ba tuần tăng, sau khi dữ liệu thương mại tháng 10 cho thấy xuất khẩu giảm 1.1% và nhập khẩu tăng thấp hơn kỳ vọng, phản ánh nhu cầu bên ngoài suy yếu sau giai đoạn đẩy trước đơn hàng để né thuế Mỹ. Tuy nhiên, đà giảm vẫn rất hạn chế khi PBoC tiếp tục cố định tỷ giá tham chiếu ở mức mạnh hơn dự đoán, thể hiện chủ trương kiểm soát ổn định thị trường ngoại hối. USD/CNY duy trì quanh vùng 7.12, cho thấy NDT vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed sẽ phải nới lỏng trong năm 2026 và tâm lý thị trường cải thiện sau thỏa thuận giảm căng thẳng thương mại Mỹ–Trung.
Hàng hóa
Vàng
Trong tuần vừa rồi, giá vàng dao động quanh vùng giá 4,000 USD, và không có nhiều biến động đáng chú ý. Theo số liệu từ Bank of America, dòng tiền tiếp tục chảy ra khỏi các quỹ ETF vàng, nhưng yếu hơn đáng kể (chỉ còn 0.4 tỷ USD so với mức kỷ lục 7.5 tỷ USD trong tuần trước đó) (đọc thêm).
Tuy nhiên, với việc chính phủ Mỹ nhiều khả năng sẽ mở cửa trở lại trong tuần tới, nhiều rủi ro sẽ không còn, giá vàng vẫn còn có nguy cơ giảm sâu hơn nữa. Dưới lăng kính kỹ thuật, giá vàng cũng đang tích lũy để chờ đợi một đợt bứt phá mạnh hơn. Bứt phá về hướng nào, phù thuộc vào sự biến động của các rủi ro hiện hữu và chưa hiện hữu.
Một so sánh bên lề, theo dõi trong thời gian qua, dù nhu cầu vàng tại thị trường Trung Quốc cũng không kém Việt Nam, nhưng giá vàng tại Trung Quốc lại bám rất xát giá vàng quốc tế, mức chênh lệch chỉ loanh quanh dưới 1 triệu VND/lượng. Điều này phản ánh rõ rệt, mức chênh lệch giá vàng chủ yếu xuất phát từ vấn đề nguồn cung.
Dầu thô
Trong tuần đầu tháng 11, dầu thô Mỹ biến động chủ yếu theo cân bằng giữa áp lực dư cung và kỳ vọng nhu cầu phục hồi, hơn là biến động kỹ thuật giá. Tín hiệu từ OPEC+ về khả năng duy trì hoặc tăng nhẹ sản lượng trong các tháng tới làm thị trường lo ngại rằng nguồn cung toàn cầu vẫn dồi dào, đặc biệt khi dự trữ thương mại của Mỹ chưa giảm đáng kể.
Ở chiều ngược lại, nhu cầu lại chịu ảnh hưởng từ tăng trưởng chậm tại Trung Quốc và châu Âu, thể hiện qua số liệu sản xuất suy yếu. Bên cạnh đó, việc Fed chưa làm rõ lộ trình hạ lãi suất khiến chi phí vốn cao hơn, hạn chế dòng tiền đầu cơ vào hàng hóa. Dầu vì vậy giao dịch trong trạng thái chờ tín hiệu rõ ràng hơn từ chính sách và nhu cầu thực tế, thay vì hình thành xu hướng mới.
Tài sản số
BTC
Trong tuần đầu tháng 11, diễn biến của Bitcoin chủ yếu phản ánh tâm lý rủi ro toàn cầu suy yếu hơn là vấn đề kỹ thuật giá. Đợt thanh lý quy mô lớn trong tháng 10, bắt nguồn từ tuyên bố áp thuế 100% lên hàng hóa Trung Quốc của chính quyền Mỹ, vẫn để lại dư chấn, khiến mức đòn bẩy trên thị trường giảm rõ rệt. Nhà đầu tư chuyển từ trạng thái “đuổi giá” sang giữ tiền và quan sát, đặc biệt khi Fed chưa xác định được lộ trình cắt giảm lãi suất tiếp theo và dữ liệu lao động Mỹ bị gián đoạn do chính phủ đóng cửa.
Bên cạnh đó, các tổ chức giao dịch lớn vẫn chưa tăng vị thế mới, thể hiện qua khối lượng giao dịch phái sinh giảm và tỷ lệ funding giữ ở vùng trung tính. BTC vì vậy dao động trong bối cảnh kỳ vọng dài hạn tích cực nhưng tâm lý ngắn hạn phòng thủ.
ETH
Đối với Ethereum, các yếu tố làm thay đổi giá trong tuần không nằm nhiều ở thị trường chung mà nằm ở cấu trúc hệ sinh thái. Sự mở rộng của staking, đặc biệt từ các nền tảng Lido và các dịch vụ custody tổ chức, tiếp tục giữ tỷ lệ ETH khóa ở mức cao, làm giảm lượng lưu thông thực tế trên thị trường.
Tuy nhiên, chính điều này cũng khiến ETH nhạy cảm hơn với biến động tâm lý, khi dòng tiền mới vào chậm lại trong bối cảnh nhà đầu tư tổ chức chờ đợi rõ ràng hơn về quy định stablecoin và thuế giao dịch crypto.
Ngoài ra, hoạt động của DeFi và layer-2 có dấu hiệu tăng trở lại, nhưng chưa đủ tạo dòng cầu mạnh. Kết quả là ETH đang trong trạng thái nền tảng dài hạn vững, nhưng động lực ngắn hạn yếu, tương tự BTC.