Tại Mỹ, quyết định lãi suất trong các cuộc họp Ủy ban Thị trường mở FOMC là quyết định về hành lang lãi suất mà Fed sẽ dựa vào đó để thực hiện điều tiết, đưa lãi suất thị trường về trong hành lang đã định.
Các mức lãi suất tham chiếu trên thị trường tiền tệ Mỹ, như EFFR hay SOFR phản ánh tình trạng thanh khoản trên thị trường. Đồng thời EFFR và SOFR sẽ được sử dụng như mức lãi suất tham chiếu cho các mức lãi suất khác trên thị trường tiền tệ hay định giá tài sản.
Như đã nói, EFFR và SOFR phản ánh tình trạng thanh khoản của thị trường (lần lượt cho unsecure và secured), Fed điều tiết hai lãi suất này bằng cách bơm hoặc hút thanh khoản trên thị trường tiền tệ Mỹ, bằng nhiều công cụ khác nhau. Thanh khoản thay đổi thì EFFR và SOFR cũng thay đổi.
Để làm được điều này thì Fed sẽ phải có khả năng bơm/hút thanh khoản không giới hạn, thực hiện nghiệp vụ cho đến khi nào các mức lãi suất trở về vùng mục tiêu.
Ở Việt Nam, SBV vận hành theo mô hình FX Rate Target, trong đó hành lang lãi suất Bill–OMO không phải "trần lãi suất cho vay" theo nghĩa Fed, mà là cặp sàn/trần thanh khoản tùy theo trạng thái thừa/thiếu thanh khoản – lãi suất Bill là sàn khi thừa, OMO/tái chiết khấu là trần khi thiếu. Mức lãi suất OMO được coi là mức trần lãi suất cho thị trường Liên ngân hàng, vì theo lý thuyết thì không có thành phần nào có thể cho vay rẻ hơn SBV, vì vậy mà mức lãi suất SBV cho thị trường vay sẽ là mức cao nhất. Nếu lãi suất cao hơn lãi suất OMO, thì ngân hàng có thể quay lại vay từ SBV.
Nhưng đó là lý thuyết, bởi vì SBV không có khả năng cho vay không giới hạn như Fed, một phần vì bị giới hạn bởi lượng tài sản đảm bảo, cũng như phải cân đối vấn đề tỷ giá. Vì vậy, trên thực tế, lãi suất Liên ngân hàng Việt Nam biến động rất mạnh, không thể hiện sự tương quan với các mức lãi suất chính sách. Từ đầu năm 2024 đến nay, lãi suất qua đêm VND trên thị trường LNH thường xuyên cao hơn các mức lãi suất chính sách.
Mối quan hệ giữa lãi suất Thị trường 1 (lãi suất huy động) và lãi suất Thị trường 2 (Liên ngân hàng) phức tạp hơn, do chuỗi truyền dẫn qua chi phí vốn của ngân hàng và qua tỷ giá đối nghịch nhau.
Nếu chúng làm mịn các mức lãi suất đến một mức độ nhất định, chúng ta có thể thấy các đường lãi suất nhìn chung có chung một hình dạng, dẫn đến dễ dàng đánh giá rằng lãi suất này tương quan, hay bám sát lãi xuất kia. Tuy nhiên, thực tế những biến động đó đều xuất phát từ cùng một nguyên nhân, là thanh khoản trong hệ thống thiếu hụt, ngân hàng cần nguồn vốn để cho vay. Chính nó đã kéo hầu hết các mức lãi suất lên cao, chứ không phải lãi suất chính sách kéo lãi suất thị trường lên.
Nói tóm lại, cơ chế và công cụ chính sách của Việt Nam và Mỹ tương đối khác nhau, khiến công cuộc điều hành lãi suất, đặc biệt là các lãi suất huy động/cho vay ra nền kinh tế (thị trường 1) thường không hiệu quả, không bám sát các mức lãi suất chính sách như ở Mỹ. Mà thực tế, là các mức lãi suất ở Việt Nam biến động theo thanh khoản trong hệ thống ngân hàng.