Sau khi một số tin đồn xuất hiện trên các cộng đồng đầu tư về các chính sách tiền tệ mới, các nhà đầu tư đang quan tâm trở lại với vấn đề mà hệ thống ngân hàng Việt Nam đang gặp phải. Vì vậy, mà tôi muốn trình bày lại vấn đề một cách có hệ thống và dễ hiểu hơn cho mọi người.
Vòng xoay tiền đình trệ
Nhiệm vụ chính của hệ thống ngân hàng là phân bổ lại nguồn vốn nhàn rỗi của xã hội. Họ lấy nguồn vốn vay dài hạn và cho doanh nghiệp vay để sản xuất. Trong quá trình sản xuất, việc thanh toán nhân công, nguyên vật liệu sẽ tạo ra lượng tiền gửi mới cho hệ thống ngân hàng.
Dòng tiền doanh nghiệp trả gốc và lãi cho các ngân hàng trong dài hạn sẽ là nguồn vốn để để các ngân hàng cho vay vòng tiếp theo. Đó là trong điều kiện lý tưởng. Bây giờ chúng ta sẽ nhìn vào các vấn đề của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Mỗi lần dòng tiền được xoay vòng ngân hàng – doanh nghiệp như vậy, một đồng tiền được sử dụng nhiều hơn, velocity của tiền tăng. Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam là một lượng lớn tín dụng được cấp cho ngành BĐS. Đặc thù của lĩnh vực BĐS là vòng xoay tiền rất chậm. Điều này khiến vòng xoay tiền của toàn bộ hệ thống bị chậm lại.
Tệ hơn nữa, khi thị trường BĐS đóng băng, việc bán BĐS đình trệ, sẽ khiến toàn bộ lượng tín dụng, lượng tiền mà ngân hàng cho vay, sẽ đóng băng trong các dự án BĐS không bán được. Dòng tiền khi này sẽ không chảy trở lại các ngân hàng, vì vậy mà các ngân hàng không thể xoay vòng nguồn vốn để tiếp tục cho vay.
Zoombie
Đỉnh điểm của hiện tượng này, là khi một số doanh nghiệp BĐS mất khả năng trả nợ. Nếu để cho các doanh nghiệp này phá sản, ngân hàng sẽ mất vốn. Việc bán tài sản đảm bảo để thu hồi nợ không giúp ích được nhiều vì chính việc không bán được BĐS đã khiến các doanh nghiệp này mất khả năng trả nợ. Trong trường hợp đó, rủi ro với hệ thống là lớn, nên họ không thể cho những doanh nghiệp này vỡ nợ. Thay vào đó, họ gia hạn, rollover các khoản nợ không thể trả.
Việc này về căn bản là kéo dài và làm trầm trọng hơn vấn đề. Giả dụ, một doanh nghiệp BĐS vay 100 đồng với lãi 5%. Vì kinh doanh kém, họ không thể trả khoản nợ này. Các ngân hàng cũng không thể để họ phá sản, vì vậy, cho phép doanh nghiệp rollover, tức cho vay một khoản nợ mới để trả khoản nợ cũ. Khi này, doanh nghiệp BĐS sẽ phải vay 105.
Nếu may mắn, doanh nghiệp có thể vực dậy và làm ăn tốt trở lại và trả nợ, thì rất tuyệt vời. Nhưng nếu không, doanh nghiệp đó sẽ trở thành zoombie, không thể phá sản nhưng sẽ đều đặt ăn mòn vào vốn vay của ngân hàng, khi liên tục rollover các khoản nợ.
Việc rollover liên tục này sẽ càng ngày càng chôn nhiều vốn của ngân hàng trong các tài sản khó thanh lý hơn, dù không được xếp vào nợ xấu. Nhưng đồng thời, nó cũng làm gia tăng tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng.
Cấu trúc kỳ hạn
Vì thị hiếu của ngân hàng là cho vay các khoản vay liên quan đến BĐS (do có tài sản đảm bảo) và mục tiêu tăng trưởng kinh tế cũng đòi hỏi vốn cho lĩnh vực BĐS/cơ sở hạ tầng. Nhu cầu vốn dài hạn liên tục ở mức cao.
Trong lúc đó, một lượng lớn vốn dài hạn bị đóng băng, hoặc có velocity thấp, dòng tiền từ lượng vốn này tạo ra không đủ để tài trợ cho các tài sàn (aka khoản cho vay và các nghĩa vụ khác) của ngân hàng, họ buộc phải tích cực huy động tiền gửi và các kênh khác để đảm bảo các tỷ lệ an toàn vốn. Hệ quả là lãi suất huy động tăng và đặc biệt tăng ở các kỳ hạn dài.
Việc này dẫn đến tình trạng thiếu nguồn vốn dài hạn để đáp ứng nhu cầu cho vay. Trong khi đó, lượng vốn ngắn hạn liên tục rollover, tạo nên sức ép về chi phí vốn. Nhưng lượng vốn ngắn hạn này lại bị giới hạn trong việc cho vay trung/dài hạn.
Nói cách khác, ngân hàng vẫn phải chấp nhận chi phí vốn cao để huy động vốn ngắn hạn nhằm đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn, nhưng việc huy động đó lại không thể đáp ứng nhu cầu cho vay trung và dài hạn rất lớn.
Tựu chung lại, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đang gặp vấn đề là chênh lệch trong cấu trúc kỳ hạn của nguồn vốn (tiền gửi) và tài sản (khoản vay). Bản thân vấn đề này, xuất phát từ thị hiếu cho vay BĐS của các ngân hàng, các vấn đề của thị trường và doanh nghiệp BĐS khiến cho lượng vốn dài hạn bị đóng băng, không thể tạo ra tiền gửi và dòng tiền dài hạn mới để các ngân hàng có thể tài trợ cho tài sản dài hạn của họ.
Khi tài sản không đủ khả năng tái tạo nguồn vốn, các ngân hàng phải tăng cường huy đồng từ các nguồn khác, đặc biệt là huy động tiền gửi, dẫn đến cạnh tranh lãi suất huy động giữa các ngân hàng như thời gian vừa rồi. Nguồn vốn dài hạn liên tục bị hút vào BĐS và Zoombie, trong khi vốn ngắn hạn thì không thể cho vay dài hạn.
Để giải quyết vấn đề lãi suất cao (tất cả các loại lãi suất) thì giải pháp trước mắt là nới lỏng các yêu cầu về an toàn vốn (ví dụ, quay lại việc cho phép tính TGKB vào LDR) để giảm nhu cầu huy động của các ngân hàng. Tuy nhiên, nó không giải quyết được vấn đề chênh lệch kỳ hạn.
Hiện tại, đang có rất nhiều thông tin về các chính sách mới từ cơ quan quản lý để giải quyết vấn đề lãi suất cao cũng như hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vì vậy tôi sẽ dành phần giải pháp cho những bài viết sau, khi các cơ quan nhà nước đã đưa ra những biện pháp quản lý chính thức.